093.666.8010

TIÊU CHUẨN CHUẨN ĐOÁN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG

Đái tháo đường nguy hiểm thế nào chắc mọi người đều biết. Vậy, làm cách nào để biết được mình có bị đái tháo đường hay không? DK-Betics sẽ thông tin đến bạn các tiêu chuẩn để chuẩn đoán đái tháo đường ở các giai đoạn khác nhau nhé.

1. Chẩn đoán sớm bệnh đái tháo đường typ 2

Đối tượng có yếu tố nguy cơ để sàng lọc bệnh đái tháo đường typ 2: Tuổi ≥ 45 và có một trong các yếu tố nguy cơ sau đây:

– BMI ≥ 23 (xem phụ lục 1: Tiêu chuẩn chẩn đoán thừa cân, béo phì dựa vào BMI và số đo vòng eo áp dụng cho người trưởng thành khu vực Châu Á (theo IDF, 2005)

– Huyết áp trên 130/85 mmHg

– Trong gia đình có người mắc bệnh đái tháo đường ở thế hệ cận kề (bố, mẹ, anh, chị em ruột, con ruột bị mắc bệnh đái tháo đường týp 2).

– Tiền sử được chẩn đoán mắc hội chứng chuyển hóa, tiền đái tháo đường (suy giảm dung nạp đường huyết lúc đói, rối loạn dung nạp glucose).

– Phụ nữ có tiền sử thai sản đặc biệt (đái tháo đường thai kỳ, sinh con to – nặng trên 3600 gam, sảy thai tự nhiên nhiều lần, thai chết lưu).

– Người có rối loạn lipid máu; đặc biệt khi HDL-c dưới 0,9 mmol/L và triglycrid trên 2,2 mmol/l.



2. Chẩn đoán tiền đái tháo đường (Prediabetes)

– Rối loạn dung nạp glucose (IGT), nếu mức glucose huyết tương ở thời điểm 2 giờ sau nghiệm pháp tăng glucose máu bằng đường uống từ 7,8 mmol/l (140 mg/dl) đến 11,0 mmol/l (200 mg/dl).

– Suy giảm glucose máu lúc đói (IFG), nếu lượng glucose huyết tương lúc đói (sau ăn 8 giờ) từ 6,1 mmol/l (110 mg/dl) đến 6,9 mmol/l (125 mg/dl) và lượng glucose huyết tương ở thời điểm 2 giờ của nghiệm pháp tăng glucose máu dưới 7,8 mmol/l (< 140 mg/dl).

3. Chẩn đoán xác định đái tháo đường

Tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh đái tháo đường (WHO- 1999), dựa vào một trong 3 tiêu chí:

– Mức glucose huyết tương lúc đói ≥ 7,0 mmol/l (≥ 126 mg/dl).

– Mức glucose huyết tương ≥ 11,1 mmol/l (200 mg/dl) ở thời điểm 2 giờ sau nghiệm pháp dung nạp glucose bằng đường uống.

– Có các triệu chứng của đái tháo đường (lâm sàng); mức glucose huyết tương ở thời điểm bất kỳ ≥ 11,1 mmol/l (200 mg/dl).

Những điểm cần lưu ý:

– Nếu chẩn đoán dựa vào glucose huyết tương lúc đói và/hoặc nghiệm pháp dung nạp tăng glucose máu bằng đường uống, thì phải làm 2 lần vào hai ngày khác nhau.

– Có những trường hợp được chẩn đoán là đái tháo đường nhưng lại có glucose huyết tương lúc đói bình thường. Trong những trường hợp đặc biệt này phải ghi rõ chẩn đoán bằng phương pháp nào. Ví dụ “Đái tháo đường týp 2 – Phương pháp tăng glucose máu bằng đường uống”.

4. Yếu tố nguy cơ của bệnh đái tháo đường

– Tuổi > 45

– Béo phì

– Hội chứng buồng trứng đa nang

– Tăng huyết áp (>=140/90 mmHg)

– Rối loạn mỡ máu: HDL-C =< 35 mg/dl, Triglycerid >= 250 mg/dl

– Có tiền căn rối loạn đường máu đói hoặc rối loạn dung nạp glucose trong các lần thử trước đây

– Gia đình có người bị đái tháo đường (trực hệ: cha, mẹ, anh chị em)

– Sắc dân nguy cơ: châu Á, người Mỹ gốc Phi, người Tây Ban Nha, người thổ dân châu Mỹ

Những người có một trong số các yếu tố nguy cơ trên cần tầm soát đái thái đường định kỳ (trung bình mỗi 3 năm, nguy cơ cao tầm soát mỗi năm)

 

Ý kiến của bạn